30/10/07

Trang phục các dân tộc Việt Nam

Trang phục của các dân tộc Việt Nam hết sức phong phú và đa dạng, và mỗi trang phục lại mang những nét độc đáo và đặc trưng riêng cho từng vùng, từng miền, chẳng hạn ở vùng thấp miền núi, các dân tộc sống trên những nếp nhà sàn thường mặc quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn mô phỏng hoa rừng, thú rừng. Ở vùng núi, cao nguyên phụ nữ thường mặc váy, nam giới đóng khố...Song nhìn chung trang phục của các dân tộc được trang trí hoa văn sặc sỡ hài hoà về màu sắc, đa dạng về mô típ, mềm mại về kiểu dáng, thuận cho lao động trên nương, tiện cho việc đi lại trên đường đèo dốc.
Cùng với những bộ váy áo do đôi bàn tay khéo léo và tâm hồn thẩm mỹ của các thiếu nữ dân tộc tạo ra thì những bộ đồ trang sức như các loại hoa tai, vòng tay, vòng cổ bằng đồng, bạc, dây cườm không thể thiếu được trong trang phục của người dân tộc

Truyền Thống Tôn Sư Trọng Đạo Của Người Việt

Người Việt Nam, trong lời ǎn tiếng nói dân gian và những khúc hát ru của mình, đã truyền miệng cho nhau từ đời nay sang đời khác những lời dăn dạy con cháu về truyền thống tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn.
Hai cặp lục bát dưới đây đã thấm vào lòng chúng tôi từ thuở còn nằm nôi, chính là một trong những lời ru - ca dao - tục ngữ cài đan, lồng ghép, tạo nên sự đa thanh, đa nghĩa, biểu cảm lạ lùng.
"Bồng bồng mẹ bế con sang
Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo
Muốn sang thì bắc Cầu Kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy"
Hai câu trên rõ ra lời ru con - lời ca dao yêu thương, ngậm ngùi, kể lể. Mẹ bồng con đi dọc bờ sông vắng. Muốn sang sông nhưng: "Đò đục quan cấm, đò ngang không chèo". Mẹ than cùng con, mẹ than đời mẹ. Giọng giãi bày, nghẹn ngào, ấm ức.
Hai câu dưới, hiển nhiên là tục ngữ nối theo, kết tinh bao trải nghiệm đắng cay suốt cuộc đời nổi nênh của mẹ. Có người hiểu câu 3: muốn sang trọng thì bắc cầu đẹp (lộng lẫy). Một số ý kiến khác: muốn sang (qua) sông thì phải bắc (làm) cầu để qua. Đặt trong vǎn mạch cả 4 câu. Chúng tôi nghiêng về cách kiểu thứ 2. Từ "sang" (động từ ) ở câu này đồng nghĩa cùng loại với từ "sang" trong câu đầu. Bởi mơ ước suốt đời của rmẹ là đứa con được sang bờ bên kia, vượt thoát dòng sông mênh mông đói nghèo, dốt nát.
So với nhiều câu tục ngữ nói về thầy (không thầy đố mày làm nên, một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy, cơm cha, áo mẹ công thầy..v..v..) hai câu này mượt mà duyên dáng hơn. Trong hình thức lục bát, nối tiếp tự nhiên từ hai câu ca dao giàu âm thanh (bồng bồng), hình ảnh (mẹ bế con đò dọc, đò ngang, cầu kiều...), tuy là lời ru lúc ẵm con mà chở nặng lời mẹ dạy con từ sớm, từ xa, người ta có thể truyền trao kinh nghiệm sống, ứng xử, nhưng để có học thức, có vǎn hoá, (hay chữ) nhất định không thể thiếu được vai trò của ông thầy.
Đó là lời bà mẹ Việt Nam nghèo, đảm đang, đặt cả niềm tin vào vị thế người dạy con mình, dẫu đời bao ngang trái, vẫn kiên dũng bắc cầu cho con qua sông, vượt lên nghèo đói lạc hậu.
Vậy, chỉ còn cách "bắc cầu mà nối", vì "dốt phải đi tìm thầy"! Không nên hiểu "sang" ở đây là "giàu sang" thì bắc "cầu kiều" (đẹp). Đây cũng chẳng phải là chiếc cầu nổi (phù kiều) hoặc trùng lặp ("cầu" - "kiều" chữ Hán). "Cầu Kiều" là chiếc cầu cao ("kiều", tiếng cổ còn có nghĩa là "cao") để cho đò dọc, đò ngang đều qua lại được. Cần phải cao, chắc để con bước lên đường học tập vững vàng.
Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học, "Không thầy đố mày làm nên", thậm chí "dốt nát đến đâu, học lâu cũng biết". Ở đây từ "thầy" chỉ có nghĩa người dạy học (thầy đồ, thầy giáo) - tấm gương mẫu mực. sáng ngời về đạo đức, học thức. Muốn thành người, muốn chữ tốt vǎn hay ắt phải tìm đến với thầy. Ở xứ sông nước này, bắc cầu cũng cần như cần ǎn, học, làm lụng (chính nhà giáo - nhà thơ hiền triết Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã bắc hai chiếc cầu Nghênh Phong và Trường Xuân khi lui về ở ẩn). Thế kỷ này con cháu bắc cầu qua sông Hồng, sông Mã, sông Gianh, sông Hương rồi sẽ qua sông Tiền, sông Hậu. Muốn sang sông phải biết bắc cầu. Muốn học hành thành đạt, phải yêu quí sự uyên bác và lòng yêu trẻ của thầy. Cái lý tự nhiên giản đơn là vậy.
Cả hai câu đều kết cấu theo kiểu quan hệ điều kiện - giả thiết: Muốn A thì B. Nhưng kết luận sau thiên về giá trị tinh thần (yêu thầy). Từ "lấy" trong "lấy thầy" không bao giờ hàm ý "lấy làm chồng", mà chỉ biểu thị hướng của hành động nhằm mang lại kết quả thiết thực. Tất nhiên không phải là lấy được, lấy lệ. Giáo sư Nguyễn Thạch Giang cho biết có bản ghi là phải yêu lòng thầy. Chúng tôi nghĩ là có lý, đỡ gây hiểu lầm, nghĩa là yêu quý tấm lòng cao cả của thầy bằng cả tấm lòng. Xin chớ hiểu là lấy lòng, cho vừa lòng thầy, nịnh thầy.
Từ ý câu tục ngữ, chúng tôi nghĩ về "Tam giác sư phạm" Thầy - trò (con trẻ) - kiến thức (chữ); rộng hơn là mô hình liên kết giáo dục: gia đình - nhà trường, xã hội. người bình dân xưa đã hiểu sâu vai trò truyền bá đạo lý, trí thức, lễ và vǎn của các nhà giáo, đồng thời cũng biết thắt chặt mối liên hệ giữa các thành phần giáo dục.
Bốn câu mẹ ru con hay tự nói với mình? Mẹ nói với ta: người thầy rất xứng đáng được kính yêu vì là người chỉ đường, dẫn lối, giáo dục, giáo dưỡng mình hiểu biết, lao động, biết sống đẹp theo lẽ phải của cộng đồng, biết tự khẳng định. Còn mãi lời ru, lời biết ơn tất cả những ai hết lòng vì sự nghiệp đào tạo, giáo dục! Còn có giáo dục thì còn có thông minh, vǎn hoá, phát triển! Còn mãi trong ta, dẫu học đã thành, danh lập, vẫn nhớ về lời ru - giao thoa, hài hoà tục ngữ, ca dao .

Mầu sắc với truyền thống văn hóa dân tộc Việt

Ở mỗi dân tộc việc vận dụng mầu sắc có tập quán khác nhau. Thí dụ ở các nước phương Tây, mầu đen là mầu tang tóc, còn ở Việt Nam và các nước phương Đông thì phổ biến màu tang là mầu trắng.
Mầu sắc còn mang đặc trưng sắc thái của các tầng lớp xã hội khác nhau: Thí dụ mầu vàng là của vua, từ các quan đại thần cho đến thường dân, cấm không ai được mặc quần áo hoặc xây dựng nhà cửa màu vàng. Mầu tím là sắc phục của các quan đại thần. Mầu điều, mầu đỏ dành riêng để tế thần và làm sắc phục cho các cụ thượng thọ. Mầu nâu sòng là của cửa Thiền dành cho những kẻ quy y Phật tổ, cũng như mầu đen là sắc phục của linh mục đạo Ky-Tô. Mầu xanh là của những người còn theo đòi Cửa Khổng sân Trình, của học trò chưa đậu đạt.
Trong bài thơ La-sơn phu-tử Nguyễn Thiếp gửi Tiến sĩ Nguyễn Khản có câu:
Quân kim bào hốt trung triều sĩ,
Cố ngã lâm tuyền khâm thượng thanh...
(Có nghĩa là: Nay ngài đã là khanh tướng trong triều, mà còn nhớ đến bạn học ngày xưa áo vẫn xanh). "Áo vẫn xanh" tức là chưa hiển đạt, vẫn còn là bộ quần áo của người hàn sĩ. Mầu đào tức mầu hoa đào là của các nàng ca sĩ, cho nên mới có danh từ "Hát ả đào".
Mầu đen, mầu nâu là trang phục rẻ tiền nhất của quần chúng nông dân. Mầu xanh nhập nội từ đất nước Trung hoa sau giải phóng gọi là xanh công nhân.
Ở Việt Nam, từ xưa tới nay, mầu đỏ, màu vàng, màu hồng, dùng trong trướng đối chỉ dành để chúc tụng, khao lão, mừng rỡ, còn trong lễ tang chỉ có thể dùng mầu trắng, mầu xanh, mầu đen, mầu tím... không hiểu vì sao, gần đây nhan nhản ở các cửa hàng, trướng điếu (lễ tang) cùng dùng mầu đỏ, mầu vàng rực rỡ, phải chăng các cụ già chết là đáng mừng, không cần phải an ủi, lưu luyến, nên chẳng cần dùng mầu đen, trắng, xanh, tím như ngày xưa. Vì thế mới xẩy ra câu chuyện oái oăm: Có người đi mừng ông ban 70 tuổi lại mua một bức trướng điếu mầu đỏ thêu 4 chữ vàng "Tiên cảnh nhàn du", có khác gì chúc cho bạn mình mau chết để chóng được lên dạo chơi trên cảnh Bồng Lai. Nguyên "Tiên cảnh nhàn du", (Nghĩa là thanh nhàm dạo chơi trên cảnh tiên) là để an ủi người mới mất từ nay hết nợ trần gian lên hưởng cảnh tiên

Mâm Cỗ Cúng Tổ Tiên Của Người Việt

Mâm cỗ ở nơi này hay nơi khác trong cả nước có khác nhau về hình thức nhưng vẫn biểu hiện lòng thành kính thiêng liêng dâng lên tổ tiên, để con cháu thấy đó mà nhớ đến nguồn cội ông bà, tâm niệm tấm lòng hiếu thảo với gia đình, với xã hội…
Năm hết Tết đến dù ai muốn mua gì, sắm gì trước sau cũng tập trung vào mâm cỗ Tết. Cách nay chừng năm thập kỷ từ thành thị tới nông thôn, dù giầu dù nghèo thì cũng cúng đủ 4 ngày Tết. Nhà giầu thì mâm cỗ làm đủ mười món, nhà nghèo thì cũng có cái chân giò và hương hoa thắp trọn 4 ngày Tết.
Phong tục này được lưu truyền từ trên 2000 năm cho tới nay. Khi mâm cỗ ngày Tết được hoàn tất, người ta thấy từng món ăn thể hiện đầy đủ hồn dân tộc, những món ăn sang quý truyền thống của ông bà xưa được phục hồi, được sáng tạo, là dịp cho những ai đến dự cỗ trực tiếp tìm hiểu lịch sử cha ông từ văn hóa ăn uống và nghệ thuật nấu nướng qua mâm cỗ Tết của dân tộc Việt. Không có mâm cỗ nào của người Việt Nam là không được những người làm bếp bày tỏ tình cảm trân trọng dân tộc của mình bằng kỹ năng chế biến các món ăn một cách nghiêm túc đến mức cầu kỳ như vậy. Thậm chí trong khi nấu cũng kiêng không nếm sợ bất kính với tổ tiên. Người làm bếp giỏi chỉ cần ngửi hương vị thức ăn là có thể biết được đậm nhạt. Nếu muốn thử thức ăn chín tới hay quá mềm chỉ dùng đũa thử là biết. Khi đi chợ người mua cẩn thận từ cách chọn cây rau tươi ngon, cách lựa chọn gia cầm, ví như gà cúng giao thừa nhất thiết phải là trống hoa chưa "toòng teng" gì với bạn mái để cúng gia tiên. Nếu gia cảnh còn khiêm tốn thì lựa chọn một cái chân giò thật ngon cũng được. Gà để nấu là loại gà đã có con rồi nhưng chưa có cháu, nghĩa là chưa già, không béo quá thì thịt mới ngọt, nấu mới mềm. Những loại rau, củ, qủa cũng được lựa chọn thật kỹ lưỡng để nấu các món hạnh nhân, món xu hào nấu nấm tôm nõn, xu hào hoặc xúp lơ xào bóng rồi những món nấu đông, măng lưỡi lợn nấu chân giò, giò thủ, nem rán, bánh chưng xanh, dưa hành bên đĩa sôi gấc màu hoa hiên rực rỡ. Cơm cúng thường được nấu từ gạo dự, bây giờ giống gạo đó đã bị mai một thì gạo tám thơm được thay thế, là những món ăn không ngán, nhìn không nhàm và… cũng không được phép ngán, không được phép nhàm chán trong ngày đầu năm.
Cũng vì một niềm khát vọng nhớ mâm cỗ Tết mà những người con, người cháu dù công tác hay học hành ở miền xa xôi nào, dù tàu xe khó khăn đến đâu cũng ráng thức đêm thức hôm mua được tấm vé để về dự. Cũng vì mâm cỗ cúng tổ tiên ngày Tết mà không ít Việt xa quê hương vượt xa hàng vạn dặm để về quê hương. Để được chắp tay trong khói nhang trầm, để được khấn nguyện chân thành trước bàn thờ gia tiên, để được thấy những sắc màu của dân tộc mình trên mâm cỗ ngày Tết. Được giao hòa trong tình cảm gia đình dưới mái ấm, bởi tình cảm ấy không thể mua được bằng đồng mỹ kim trên sứ người. Bởi chỉ có người Việt hiểu rõ hơn ai hết về chân giá trị mâm cỗ Tết của người Việt Nam, mâm cỗ ngày Tết không cho phép lai căng bất cứ dân tộc nào để tỏ lòng thành kính sâu sắc và thiêng liêng với tổ tiên.
Sau khi cúng tổ tiên và cúng gia tiên, dự với mâm cỗ trong ngày Tết, từ người lớn tuổi cho tới đứa trẻ nhỏ tuổi nhất cũng đều khoác trên mình trang phục đẹp nhất. Ngồi với mâm cỗ, mọi người sẽ được lắng nghe đầy đủ cung bậc cảm xúc của người thân, được hiểu biết mọi thông tin vui, lạ mà những thông tin đại chúng chưa biết tới. Con cháu tụ hội quanh mâm cỗ ngày Tết không đơn thuần được thưởng thức miếng ngon xưa ông, bà, cha, mẹ đã từng nấu mà còn là cơ hội được chứng tỏ mình vẫn tròn chữ hiếu, không làm rơi rớt chữ lễ và không làm mai một chữ nghĩa. Dù con đường mưu sinh gập gềnh, khúc khuỷu mình vẫn không thể dừng chân, bởi dừng lại là mình sẽ lạc hậu mà mình vẫn phải tự rượt đuổi chính mình trên thương trường.
"Làm người hữu tử hưu danh/ Sống lo xứng phận, thác đành tiếng thơm", cho nên, chính gia đình là nơi mình tìm lại chính mình. Bởi gia đình là nơi bắt đầu nguồn sống và đào tạo cho mình là con người hoàn chỉnh để trở lại phục vụ cuộc sống. Gia đình cũng là nơi giúp cho mỗi người tự hoàn thiện mình, giúp cho mình giữ được chữ thiện, chữ tâm làm gốc. Đó là nguyên nhân mà mọi thành viên trong gia đình luôn luôn trở về dưới mái ấm trong ngày Tết cổ truyền để được quây quần bên mâm cơm cúng gia tiên .
Dù là mâm cỗ của người Việt có khác nhau về hình thức của từng vùng miền nhưng vẫn biểu hiện lòng thành kính thiêng liêng dâng lên tổ tiên, để con cháu thấy đó mà nhớ đến nguồn cội ông bà, mà tâm niệm với tấm lòng hiếu thảo với gia đình, với mọi hành động và việc làm của mình với xã hội. Để rồi cứ luân hồi, năm hết Tết đến mọi người lại trở về với mâm cỗ ngày Tết thân thuộc từ hàng ngàn xưa tới nay, đã chiếm một vị trí quan trọng trong mỗi gia đình dân tộc Việt Nam.

Cội Nguồn Việt

Quê hương chưa hẳn là nơi ta sinh sống dài lâu nhất. Đối với những nông dân sớm rời xa đồng ruộng mong tìm cuộc sống ấm êm hơn nơi đất khách quê người, hoặc những chàng trai ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc từ thuở vị thành niên, thời gian sống ở quê hương đối với họ đôi khi gói gọn trong những tháng ngày náo nức tuổi ấu thơ. Nhưng bất luận với ai, quê hương luôn luôn hiện hữu, và càng đau đáu hơn trong lòng người xa xứ.
Cũng tương tự mối tình đầu, nào ai đã ăn ở với ai, sớm cách ly biền biệt, vậy mà làn hương toả ra từ mái tóc người thương một thời xa vắng vẫn đeo đẳng người thương mãi tới lúc đầu bạc răng long.
Mỗi người giữ hình ảnh quê hương trong lòng theo mỗi cách. Đối với người nghệ sĩ, đó là chùm khế ngọt trong vườn, là vành nón nghiêng che của mẹ, đối với nhà thơ, là ấn tượng về "những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ/ những đồi sim không đủ quả nuôi người"... (Thơ Chế Lan Viên).
Đối với tôi, quê hương là tiếng hò, khi nồng thắm thiết tha, khi dập dồn tiết tấu cần lao. Làng tôi không có đầm rộng sông dài, vắng tiếng hò mượt mà sóng nước như ở phá Tam Giang, song vẫn có những câu hò đối đáp giữa những người đêm thanh dắt trâu đạp lúa ngày mùa. Không có nữ, toàn những lực điền làm việc tới khuya, mỗi người lụi cụi một sân lúa không ai nhìn thấy mặt ai ngoài con trâu làm bạn. Vậy mà khi ai đó cất lên câu hò ân tình, hơi xô tưởng biệt tăm trong cô đơn thanh vắng, vẫn có một bạn nào đó trên một sân lúa hoặc gần hoặc xa lắng tai. Và khi người xướng dứt lời, người kia sẽ cất lời đối lại. Nếu người khởi cất giọng hò theo ý của bên trai, thì người đáp sẽ đóng vai bên gái, và ngược lại. Cũng có thể, từ một sân đâu đó ở xóm xa, sẽ cất lên một lời phụ hoạ. Và con trâu, người bạn thuỷ chung trong khi vẫn kiên nhẫn đếm từng bước chậm rãi trên dàn gồm những bó lúa tươi tựa vào nhau như mâm xôi khổng lồ, hình như nó cũng đang vểnh đôi tai. Tiếng hò ân tình kéo dài từ đầu hôm cho đến lúc tàn canh, khi sân lúa đã "chín", lúc này người và trâu đều đã mệt nhoài. Hò từ đầu hôm, hò mãi đến khuya. Để chống chọi cái ngủ chực ập đến sau ngày dài làm việc dưới nắng chang chang. Để quên đi nhịp lao động đơn điệu, dễ nản lòng trên mảnh sân ngai ngái mùi rơm rạ tươi và mùi lúa vừa chín tới...

Đối với tôi, quê hương còn là tiếng hò đập bắp những đêm Hè. Làng tôi có bãi trồng ngô ở Ba Lòng, thượng lưu sông Thạch Hãn. Trong kháng chiến chống Pháp bãi bắp làng Thượng là một nguồn lương thực của chiến khu. Thuở thanh bình, hàng năm cứ đến mùa gió Lão nổi, dân làng đưa thuyền ngược sông bẻ bắp; những chiếc "nôốc" rõ to chở ngập mạn những bông bắp rực màu da cam thuận gió thuận nước xuôi về ngã ba Ngô Xá rồi từ đó theo dòng sông Vĩnh Định ngược lên bến xóm. Sân nhà nào nhà nấy đỏ rực bắp tươi. Bắp phơi qua mấy nắng, chờ đêm trăng người ta đổ lên một cái giàn có chân đỡ đặt chính giữa sân. Rồi bên nam bên nữ ngồi trên hai hàng ghế đối diện, mỗi người cầm một chiếc gậy ngắn cùng đập bắp theo nhịp rập ràng. Hò khoan dô khoan... nhịp hò cần lao ngắn gọn, dập dồn, những hạt ngô theo nhịp đập mà rụng xuống rào rào, và cùng tiếng hò lan theo ánh trăng. Trai gái các làng lân cận nghe câu hò mời gọi, tìm đến đập giúp, không ai đòi công xá, chỉ cốt chia vui. Chủ chào đón thân tình, khích lệ khách chớ có ngại ngùng mình là người nơi xa vừa đến:

Đến đây đầu lạ sau quen,
Bóng trăng lạ mặt, bóng đèn lạ duyên...

Mọi người dịch lại, nhường khách một chỗ ngồi, và ai đó trao cho khách chiếc gậy. Khách khẽ nhịp vào thành giàn bắp và cất giọng lịch sự đón rào:

... Chào bên nam mất lòng bên nữ,
Chào người quân tử, bẽ dạ thuyền quyên
Cho tôi được chào chung một tiếng kẻo chào riêng khó chào...

Quê hương thường xuyên níu kéo người tha hương. Dường như có ai đó từng ví tình cảm quê hương từa tựa sợi dây thun vô cùng bền vững. Khi bạn ở gần, sợi thun chùng lại, bạn không thường xuyên cảm thấy ràng buộc mà sợi dây vô hình vẫn giữ chặt bạn. Bạn càng đi xa, bạn mỗi năm thêm một tuổi, sợi dây vô hình thuận với không gian và thời gian, lại càng níu kéo. Bạn càng đi xa, càng lớn tuổi càng cảm thấy sức mạnh của sợi-dây-quê-nhà xiết chặt con tim.

Khi tóc bạc trên đầu trôi dạt mãi
Cội nguồn ơi chiếc lá lại rơi về.
(Thơ Nguyễn Đức Mậu)

Có thể chiếc lá rơi về cội. Cũng có thể nó cuốn theo chiều gió phương xa, để rồi sẽ nhẹ nhàng đáp xuống nơi chân trời xa xăm. Có thể rồi bạn sẽ yên nghỉ một góc nào đó trên đất nước hoặc trên hành tinh này. Nhưng chiếc lá vẫn về cội. Dù đi đâu về đâu, quê hương vẫn còn đó câu hò...

Làng - Nguồn Cội Của Người Việt

Làng từ ngàn đời nay là gốc rễ đất nước, là nguồn cội của mỗi người mà dấu vết của nó có thể đọc thấy ở những nét tâm hồn, ở lối sống, tiếng nói, phong tục... Dù ở đâu, làm gì thì mỗi người cũng từng từ một làng nào đó mà đi ra. Đến khi tuổi cao không làm việc nữa người ta lại muốn về làng. Những người sống xa làng khi nhắm mắt xuôi tay cũng muốn quay về yên nghỉ trên mảnh đất của làng. Những người Việt ở hải ngoại cũng ao ước được trở về để chết ở quê hương. Người ta yêu làng đến độ nói với nhau rằng: làng tôi, làng ta, làng mình. Sự ra đi và trở về làng của người Việt đều đáng quý, đều làm lợi cho đất nước, cho văn hoá làng Việt. Những danh nhân đất Việt từ Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Chu Văn An, Tản Đà... đều đã đi - về như thế.

Làng Việt lúa nước là đơn vị cơ sở bền chắc nghìn đời nay của kinh tế Việt Nam. ở đó, cây lúa, hạt thóc là biểu tượng của sự trù phú của làng, sự no ấm của người, là biểu tượng và thước đo sự hùng cường của quốc gia, dân tộc. Làng cũng có lệ làng còn gọi là hương ước cùng với phép nước (luật danh dự của làng, chào đón những người đỗ đạt vinh quy, coi đó là phúc trạch của làng. Lệ làng cũng tôn vinh những người có công với làng, với dân, với nước. Làng coi những người đó như những tấm gương để người đời ngưỡng vọng. Những người đó đã nâng cao danh dự của làng.

Dân số Việt Nam có tới 80% sống ở làng xã và làm nghề nông. Người ta học nghề bắt đầu từ làng. Trước hết là học làm ruộng để làm ra lúa gạo, hoa màu, trồng cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, gia cầm, tức là học kỹ thuật và nghệ thuật của hai ngành chính trong sản xuất nông nghiệp là trồng trọt và chăn nuôi, đã có từ ngàn đời nay. Người ta học để biết tháng chạp (tháng 12 âm lịch) là tháng trồng khoai, tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà, tháng ba cày vỡ ruộng ra, hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng...Nghề nông là nghề gắn với thời tiết mà được mùa hay mất mùa, vì thế người ta học để biết chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì dâm. Rồi họ học thêm nghề mộc, nề, đan lát, gốm sứ, chăn tằm, ươm tơ, làm bánh... những thứ cần dùng cho mọi làng. Những lão nông tri điền và những thợ cả trong các ngành nghề chính là những ông thầy được kính trọng ở những làng Việt xưa nay. Rồi người ta lại học chữ để có văn hoá. Những người giỏi thì đi so tài, đi lập nghiệp ở mọi miền đất nước, để trở thành nhân tài của đất nước, làm nên chuyện phi thường, lưu danh bảng vàng, bia đá thì đó là niềm tự hào của mọi làng, của đất nước.

Ngoài tri thức, những kinh nghiệm sống thông thường của người Việt cũng đều được học từ làng: một sự nhịn là chín sự lành, chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa không đời nào khê...

Khi thương mại phát triển thì ngành nghề thủ công cũng phát triển làm nên những phường nghề sản xuất những mặt hàng đặc trưng của làng nghề. Không một phường nghề nào ở các đô thị Việt Nam lại không có gốc gác từ một làng nghề nào đó. Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng, gốm Phù Lãng, lụa La Khê, đúc đồng Ngũ Xã... đã làm nên phường Hàng Chiếu, Hàng Đào, Hàng Đồng, Hàng Bạc... của 36 phố phường Hà Nội cổ. Cho nên các tổ nghề rất được trọng vọng. Có thể nói, ngoài tục thờ tổ tiên, thành hoàng làng thì tục thờ các anh hùng dân tộc, thờ những người có công với làng xã, thờ các tổ nghề là những mỹ tục của người Việt.

Có thể nói, cha mẹ đã sinh ra mỗi người nhưng làng Việt, văn hoá làng Việt đã là cơ sở tạo nên tâm hồn, cốt cách mỗi người. Chính vì thế, khi nói đến một cá nhân nào đó học giỏi, có nhiều đóng góp về tri thức người ta thường nói người đó sinh ra ở một vùng đất có truyền thống hiếu học.

Kiến trúc làng Việt Nam

Nền văn hoá Việt Nam được tạo dựng trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp. Cuộc sống của người Việt Nam gắn bó với làng quán quê hương. Hình ảnh làng quê Việt Nam có luỹ tre xanh, có mái nhà tranh, có người cày cấy đã trở nên rất thân thuộc trong tâm hồn người Việt Nam...
Từ rất xa xưa, người nông dân Việt Nam làm nhà là một trong 3 việc lớn của cuộc đời: Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà và có an cư mới lạc nghiệp, điều đó có nghĩa là chỗ ở có ổn định mới lo được sự nghiệp. Quan niệm ấy đến nay vẫn tồn tại, vì vậy, khi trưởng thành ai ai cũng lo cho mình một chỗ ở, một cơ ngơi riêng. Ðã bao đời nay kiến trúc ở nông thôn Việt Nam luôn đồng nghĩa với nét văn hoá làng, xã.

Lật lại những trang sử của ngành kiến trúc Việt Nam, người ta thấy rằng kiến trúc Việt Nam sớm ra đời, có thể xuất hiện từ thời vua Hùng dựng nước, cách nay khoảng 4000 năm. Làng xóm cũng xuất hiện vào thời kỳ này. Người Việt cổ lúc bấy giờ đã biết bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói. Trên các trống đồng có thể thấy 2 loại hình nhà sàn chủ yếu là nhà sàn hình thuyền và hình mai rùa.
Theo các nhà kiến trúc cho rằng làng xã Việt Nam có tính quần thể cao, có kiểu kiến trúc đơn giản nhẹ nhàng phù hợp với khí hậu và tập quán của người Việt Nam. Làng luôn được bao quanh bằng những luỹ tre xanh, sau luỹ tre xanh đó là những mái nhà tranh ấm cúng, cưu mang che chở cho con người. Hầu hết các nhà nông thôn điển hình đều xây dựng theo kiểu có dãy nhà trên và dãy nhà ngang thường là ba gian hai chái. Có sân trước, vườn sau dàn hoa cây cảnh. Bao quanh nhà là hàng rào cúc tần, hay hàng hoa dâm bụt. Có gia đình mà chủ nhà là người nho nhã thích cuộc sống thanh tao thì họ chau chuốt hàng rào cây xanh rất cẩn thận. Ngày ngày cắt tỉa, chăm sóc như một thú vui nhằm trang trí thêm cho phần ngoài ngôi nhà ấm cúng, lịch lãm. Trước đây, khi cuộc sống của người nông dân còn khó khăn, gia đình nào xây sân, bó hè bằng gạch Bát Tràng, trồng bên nhà một gốc mít chĩu quả - được coi là một gia đình nông thôn giàu có. Ngôi nhà của gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đang được bảo tồn gìn giữ tại làng Kim Liên, huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An, vẫn giữ nguyên nét kiến trúc điển hình của một ngôi nhà nông thôn Việt Nam như thế. Xưa hầu hết các nhà đều được làm bằng tranh tre nứa lá, gỗ. Nay, trong thời đại có tốc độ đô thị hoá nhanh, thì nhiều làng quê Việt Nam đã biến đổi có những dãy phố trong làng; phong cách xây dựng cũng theo kiến trúc đô thị mới.
Nhà ở của người nông dân Việt Nam ở các vùng khác nhau cũng có những nét đặc trưng khác nhau. Nếu ai có dịp đi dọc chiều dài đất nước, hẳn sẽ rất thú vị khi thấy rằng nhà cửa làng mạc ở Việt Nam tuy bình dị, dân dã nhưng không vùng nào giống vùng nào. Ðiều đó xuất phát từ điều kiện và hoàn cảnh sống của từng vùng, phản ánh cả tâm tính của con người của vùng đó.
Nam bộ ít có bão tố, lại nhiều kênh rạch, con người phải dồn sức vào chăm chút ghe xuồng và vườn tược, nhà cửa rất đơn sơ. Mấy cây que làm cột, làm kèo, một ít lá dừa nước vừa lợp mái vừa thưng vách.
Lên Tây Nguyên, nắng lửa, mưa ngàn, mái nhà được làm theo kiểu nhọn vút, kèo cột vững chãi, hoa văn và tượng gỗ trang trí cho nhà của người sống và nhà mồ của người chết.
Vùng miền Trung Việt Nam cát trắng, đất sỏi, gió Lào, mưa nhiều, bão lắm nên mái nhà thấp. Mái lợp dày, cột lớn. Chân cột kê đá tảng, mộng mạng chắc chắn như đúc, nhà có thể khiêng đi nơi khác mà không hư hỏng.
Ðồng bằng Bắc bộ là vùng đất cổ, làng cổ. Nhà cửa ý thức được truyền thống cha truyền con nối rất rõ. Nhà ngói, sân gạch, cây mít, tường vôi là một công thức để con người đủ yên tâm cho đời mình và cho con cháu đời sau.
Lên Tây Bắc, Việt Bắc xa biển gần rừng, sẵn mưa nhưng ít bão nên nhà sàn cao, mái doãng, lợp ngói máng (thứ ngói xếp tiếp vào nhau không cần ràng buộc). Hoặc lợp bằng những mảng gỗ pơ mu, gỗ hoàng la chẻ mỏng. Hầu như nhà nào cũng có một hàng rào nứa vót nhọn cao vây quanh để chống thú dữ.
Ở Huế, ngoài thành quách, thì nhà cửa có một nét rất đặc trưng mang tính cách Huế - đó là nhà vườn. Kiến trúc nhà vườn Huế độc đáo đã làm phong phú thêm cho bức tranh kiến trúc Việt Nam.