Cùng với áo dài, áo cánh, váy lĩnh, yếm đào, thắt lưng bao... chiếc nón được coi là một thứ phục trang truyền thống của phụ nữ Việt Nam.
Trước hết, nón là một đồ dùng rất "thực dụng". Nó dùng để che mưa nắng. Nón chóp nhọn đầu, nón thúng rộng vành, nón ba tầm như nón thúng nhưng mảnh dẻ hơn... tất cả đều để che chắn cho những con người sống trên một dải đất nắng lắm mưa nhiều. Dù nón có nhiều loại, song nét đặc thù chung của nó là rộng vành (để chống nóng) và có mái dốc (để thoát nước nhanh, che mưa). Ngoài chức năng ứng phó với môi trường tự nhiên, chiếc nón còn hướng tới mục đích làm đẹp cho con người và phù hợp với cảm quan thẩm mỹ của người Việt: đẹp một cách tế nhị, kín đáo. Dưới vành nón, đôi mắt, nụ cười, lúm đồng tiền, những sợi tóc mai, cái gáy trắng ngần của cô gái dường như được tôn thêm nét duyên dáng, kín đáo mà không kém phần quyến rũ...
Người ta đội nón làm đồng, đi chợ, chơi hội. Tiễn cô gái về nhà chồng, bà mẹ đặt vào tay con chiếc nón thay cho bao nhiêu lời nhắn gửi yêu thương... Chiếc nón gợi nguồn cảm hứng cho thơ, cho nhạc. Đã có hẳn một bài về hát về nón: "Nón bài thơ, em đội nón bài thơ, đi đón ngày hội mở"... Giữa những kênh rạch, sông nước chằng chịt ở miệt vườn Nam Bộ, ai đó đã phải ngẩn ngơ vì: "Nón lá đội nghiêng tóc dài em gái xõa". Chiếc nón còn gợi nhớ dáng mẹ tảo tần: "Quê hương là cầu tre nhỏ/Mẹ về nón lá nghiêng che...". Trong những năm chiến tranh, tiễn người yêu ra chiến trường, các cô gái thường đội nón với cái quai mầu tím thủy chung. Chỉ như vậy thôi đã hơn mọi lời thề non, hẹn biển, làm yên lòng người ra trận...
Chiếc nón xuất hiện từ khi nào không ai biết. Từ thời xưa đã có câu: "Nón chuông, khua lụa, quai thao làng Đơ". Chiếc nón quai thao đã được các bà, các cô (tầng lớp trung lưu trở lên) ưa chuộng, chiếm vị trí quan trọng trong trang phục lễ hội của phụ nữ mà thời Nguyễn được sử dụng phổ biến nhất. ở Hà Nội xưa, các "cô ả" mười lăm, mười sáu - cái tuổi bắt đầu làm duyên, thường đi sắm chiếc nón Nghệ. Về cái nón Nghệ, nhà văn hóa Hoàng Đạo Thúy mô tả kỹ lưỡng thế này: "nón rộng đến 80 cm, sâu 10 cm, lần lót đan bằng sợi tre rất nhỏ, đằng sau cài những mảnh gương vào. Nón Nghệ nặng lắm vì thế, cái "khua" phải cứng, sơn quang dầu. Lên Hàng Bạc sắm một bộ "chiên, thẻ". Chiên là miếng bạc vuông, trong đó có vòng tròn, chạm hai rồng chầu mặt nguyệt. Hai chiếc thẻ cũng bằng bạc, to như quân bài tam cúc, chạm hoa lá, ở giữa có cái vòng để buộc quai thao. Cắm hai cái thẻ vào bên trong nón, đặt cái chiên vào đáy khua, rồi chờ phiên chợ hàng tơ, các bà làng Triều Khúc ra bán quai thao. Một bộ quai thao gồm tám sợi bằng tơ, mỗi sợi gồm nhiều sợi tơ, ngoài bọc tơ dệt liên tục, như bấc đèn con. Quai thao dài độ 1,5m. Hai đầu mỗi sợi thao là một quả găng, từ đó rủ xuống những chỉ tơ, dài độ 20 cm. Phải đưa thao mộc đi nhuộm thâm, nhuộm kỹ". Chỉ như thế cũng đủ biết chiếc nón được làm công phu đến mức nào.
Về cái quai thao của nón cũng rất nhiều chuyện thú vị. Có hẳn một làng giữ nghề làm thao. ấy là làng Triều Khúc (Thanh Trì - Hà Nội) nổi tiếng dệt quai thao nón dẹt nên còn có tên là Làng Đơ Thao (để phân biệt với làng Đơ Bùi, Đơ Đồng cũng ở gần đấy, chuyên nghề làm ruộng). Làng này còn có đền thờ, tượng, và sự tích tổ sư nghề Thao là Vũ úy, thời Lê - Trịnh (thế kỷ 17-18) được cử sang sứ Trung Hoa và học được nghề dệt Thao, khi về vua phong làm "Cục trưởng cục Thao" và tổ chức dạy nghề này cho dân làng Triều Khúc - Đơ Thao. Mộ cụ tổ nghề ở cánh đồng Miễu. Bia tạc đời Cảnh Hưng thứ sáu (1745). Bây giờ người làng vẫn còn truyền tụng câu ca như một niềm tự hào:
Làng tôi công nghệ đâu bằng
Là làng Triều Khúc ở gần Thanh Xuân
Quai thao dệt khéo vô ngần
Là nghề của Vũ sứ thần dạy cho...
Thực ra, chiếc nón không hẳn là thứ phục trang chỉ dành cho phụ nữ. Bước chân vào một cửa hàng ở phố Hàng Nón - Hà Nội xưa, người ta có thể nhìn qua chiếc nón mà thấy đủ thứ "tước vị", "giai tầng" trong xã hội. Có nón "mũ chảo", nón "nông dân xứ Đoài". Các anh chạy xe ba gác thì kiếm một cái "nón cu li" ba xu. Các cậu lính lệ, phục dịch cửa quan thì đã có "nón lính" làm bằng thanh tre ken lại, giống như cái đĩa úp lên đầu, trên có chỏm đồng, sau có lưỡi vải che gáy. Mà trong "nón lính" lại còn có nón lính ma tà, rồi khố đỏ, khố xanh. Các bà ngồi chợ bao giờ vào hàng cũng tìm nón Nghệ, nón "nhị thôn", nón "ba tầng" treo đung đưa trên mái nhà... Đấy là các loại nón dành cho "dân đen" còn các "quan phụ mẫu" dùng kiểu khác: tổng lý ưa nón lông quạ, bông bèo đồng, các quan nhỏ chuộng nón chóp và bông bèo bạc, các cụ lớn thì dứt khoát phải nón lông trắng, bông bèo vàng. Các tao nhân nữ sĩ thì lùng cho kỳ được nón dứa Huế, Gò Găng, nhẹ và thanh lắm.
Chiếc nón không chỉ là thứ đội đầu, che mưa, nắng. Trong khi dùng người ta còn "sáng tạo" ra bao nhiêu là công dụng. Này nhé: "Mùa nắng thì chụp lên đầu, có gió thì che diêm mà hút thuốc lào, mỏi thì lót xuống ngồi, khát không có hàng nước thì hứng nước máy, lại còn lúc ngồi ngủ ở xe thì úp lên mặt cho ruồi khỏi bu lại, lúc nóng thì làm quạt... mà túng nữa thì làm cái rổ đựng đồ mua chợ cho mẹ..." (Tam Lang - Tôi kéo xe
6/11/07
Chất hóm hỉnh trong ca dao tình yêu
Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị và ngộ nghĩnh gây nên những bất ngờ thú vị là chất hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu Nam Bộ. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây.
Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề chau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si tình đã trở thành "liều mạng":
"Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông"
Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình "hú vía" vì kịp thời nhận ra "chân tướng" đối tượng:
"May không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng cao ly sâm bên Tàu"
Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong lòng, nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn tình:
"Tôi xa mình hổng chết cũng đau
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền"
Họ là những người lao động chân chất, nên cũng bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc.
Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:
"Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này"
Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái "thật thà tội nghiệp".
Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất đùa nghịch. Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so sánh ví von trào lộng:
"Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên"
Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:
"Phòng loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!"
Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được bộc lộ một cách hài hước:
"Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều"
Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi khó tin! Nhưng hề gì. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm tình si của mình. Nàng bật cười cũng được, phê rằng "xạo" cũng được, miễn sao hiểu rằng mình đã phải ngoa ngôn lên đến thế để mong người ta rõ được lòng mình.
Lại có một chàng trai đang thời kỳ tiếp cận đối tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh đột ngột, sỗ sàng, chàng đã nghĩ ra một con đường vòng hiếm có:
"Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương"
Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen "mình dễ thương" mà chàng đã vòng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên - trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời - tạo hóa sinh ra những loại cây, hoa đẹp đẽ - rồi mới bước qua thế giới của loài người - trong thế giới loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính - "mình". Thật là nhiêu khê, vòng vo tam quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới sự hiếu kỳ háo hức muốn biết "chuyện gì đây", cho đến khi cái kết cục thình lình xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ... Nhưng mà nó thật êm ái, thật có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui lòng và không thể buông lời trách móc anh chàng khéo nịnh!
Ngược lại, cũng có những lời tỏ tình khá táo bạo, sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:
"Con ếch ngồi dựa gốc bưng
Nó kêu cái "quệt", biểu ưng cho rồi"
Những người nghe câu "xúi bẩy" này không thể không bật cười, còn đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi có phần trơ tráo kia một cái nguýt dài.
Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi "rầu thúi ruột" mà họ vẫn đùa. Những trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của người trong cuộc:
"Thác ba năm thịt đã thành bùn
Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em"
Quả là "khối tình thác xuống tuyền đài chưa tan", nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!
Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân vật tưởng tượng:
"Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông xe mối chỉ năm bảy lần, ổng không xe"
Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được thể hiện đầy ấn tượng. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đã xem cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết còn hơn là lẻ bạn!
"Chẳng thà lăn xuống giếng cái "chũm"
Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi
Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với aỉ"
Có chàng trai thì quyết tâm đem tuổi thanh xuân gửi vào cửa Phật:
"Nếu mà không lấy đặng em
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu"
Chàng vừa muốn tỏ lòng mình vừa muốn thử lòng người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng theo đến đó để thách thức cùng số phận:
"Tu đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa"
Bằng câu đùa dí dỏm của mình, cô nàng đã làm nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng - "Có gì đáng bi quan đến thế? Cái chính là em vẫn giữ vững lập trường" - đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu - "Mà có chắc là tu được không đấỷ".
Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ tình cảm của mình không kém các chàng trai.
"Phải chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột em trao anh mang về"
Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của mình, nhưng cô gái chỉ... sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi chàng trai muốn liều mình chứng tỏ tình yêu, nhưng cũng lại "nhát gan" đến bật cười:
"Gá duyên chẳng đặng hội này
Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy... tôi chèo vô"
Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả những khi thất vọng, đó là vũ khí tinh thần của người lao động để chống chọi những khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ - Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người "Ra đi gặp vịt cũng lùa; Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu"...
Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, không dụng công, toát ra một cách tự nhiên qua những từ ngữ mộc mạc; không hề chau chuốt chân thật đến độ người nghe phải bật cười. Một anh chàng quá đỗi si tình đã trở thành "liều mạng":
"Dao phay kề cổ, máu đổ không màng
Chết thì chịu chết, buông nàng anh không buông"
Một cô nàng thật thà cả tin đã giật mình "hú vía" vì kịp thời nhận ra "chân tướng" đối tượng:
"May không chút nữa em lầm
Khoai lang khô xắt lát em tưởng cao ly sâm bên Tàu"
Có những nỗi niềm tương tư ấp ủ trong lòng, nhưng cũng có khi người ta không ngại ngần thổ lộ trực tiếp với bạn tình:
"Tôi xa mình hổng chết cũng đau
Thuốc bạc trăm không mạnh, mặt nhìn nhau mạnh liền"
Họ là những người lao động chân chất, nên cũng bày tỏ tình cảm với nhau bằng thứ khẩu ngữ thường ngày không chưng diện, màu mè, tuy vậy, cái tình trong đó cũng mãnh liệt và sâu sắc.
Đây là lời tâm sự của một anh chàng đêm hôm khuya khoắt lặn lội đi thăm người yêu:
"Thương em nên mới đi đêm
Té xuống bờ ruộng đất mềm hổng đau
May đất mềm nên mới hổng đau
Phải mà đất cứng ắt xa nhau phen này"
Chàng thật thà chất phác, nhưng mà cũng có chút ranh ma đấy chứ? Chất hóm hỉnh đã toát ra từ cái "thật thà tội nghiệp".
Nhưng phần lớn vẫn là sự hóm hỉnh mang tính chất đùa nghịch. Một chàng trai đã phóng đại nỗi nhớ người yêu của mình bằng cách so sánh ví von trào lộng:
"Vắng cơm ba bữa còn no
Vắng em một bữa giở giò không lên"
Nỗi vấn vương tơ tưởng đi vào tận giấc ngủ khiến chàng trở nên lú lẫn một cách buồn cười:
"Phòng loan trải chiếu rộng thình
Anh lăn qua đụng cái gối, tưởng bạn mình, em ơi!"
Nhưng cái độc đáo là ở đây nỗi niềm đó lại được bộc lộ một cách hài hước:
"Tôi xa mình ông trời nắng tôi nói mưa
Canh ba tôi nói sáng, giữa trưa tôi nói chiều"
Có một chút phóng đại làm cho lời nói nghe hơi khó tin! Nhưng hề gì. Chàng nói không phải cốt để đối tượng tin những điều đó là sự thật mà chỉ cốt cho nàng thấu hiểu tấm tình si của mình. Nàng bật cười cũng được, phê rằng "xạo" cũng được, miễn sao hiểu rằng mình đã phải ngoa ngôn lên đến thế để mong người ta rõ được lòng mình.
Lại có một chàng trai đang thời kỳ tiếp cận đối tượng, muốn khen cô nàng xinh đẹp, dễ thương mà khó mở lời trực tiếp. Để tránh đột ngột, sỗ sàng, chàng đã nghĩ ra một con đường vòng hiếm có:
"Trời xanh bông trắng nhụy huỳnh
Đội ơn bà ngoại đẻ má, má đẻ mình dễ thương"
Mục đích cuối cùng chỉ đơn giản là khen "mình dễ thương" mà chàng đã vòng qua năm non bảy núi. Bắt đầu từ thế giới tự nhiên - trong thế giới tự nhiên lại bắt đầu từ ông trời - tạo hóa sinh ra những loại cây, hoa đẹp đẽ - rồi mới bước qua thế giới của loài người - trong thế giới loài người lại từ hiện tại ngược dòng lịch sử để bắt đầu từ tổ tiên ông bà, tới thế hệ cha mẹ, rồi tới nhân vật chính - "mình". Thật là nhiêu khê, vòng vo tam quốc làm cho đối tượng hoàn toàn bất ngờ. Những lời ngộ nghĩnh kia dẫn dắt tới sự hiếu kỳ háo hức muốn biết "chuyện gì đây", cho đến khi cái kết cục thình lình xuất hiện làm cho cô nàng không kịp chống đỡ... Nhưng mà nó thật êm ái, thật có duyên biết bao, nên dù phải đỏ mặt, cô hẳn cũng vui lòng và không thể buông lời trách móc anh chàng khéo nịnh!
Ngược lại, cũng có những lời tỏ tình khá táo bạo, sỗ sàng, nhưng hình ảnh thì lại hết sức ngộ nghĩnh, dí dỏm:
"Con ếch ngồi dựa gốc bưng
Nó kêu cái "quệt", biểu ưng cho rồi"
Những người nghe câu "xúi bẩy" này không thể không bật cười, còn đối tượng xúi bẩy cùng lắm cũng có thể tặng cho người xúi có phần trơ tráo kia một cái nguýt dài.
Những câu ca dao hóm hỉnh không chỉ bật lên từ tâm trạng đang vui, tràn đầy hy vọng, có khi "rầu thúi ruột" mà họ vẫn đùa. Những trắc trở trong tình yêu nhiều lúc được trào lộng hóa để ẩn giấu nỗi niềm của người trong cuộc:
"Thác ba năm thịt đã thành bùn
Đầu thai con chim nhạn đậu nhánh tùng chờ em"
Quả là "khối tình thác xuống tuyền đài chưa tan", nên chàng lại quyết tâm chờ tiếp ở kiếp sau cho đến khi nào nên duyên nên nợ. Kiên nhẫn đến thế là cùng!
Khi chàng trai cố gắng đến hết cách vẫn không cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân vật tưởng tượng:
"Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông xe mối chỉ năm bảy lần, ổng không xe"
Thái độ quyết liệt trong tình yêu lắm lúc được thể hiện đầy ấn tượng. Anh chàng hay cô nàng trong câu ca dao dưới đây đã xem cái chết nhẹ như lông hồng. Thà chết còn hơn là lẻ bạn!
"Chẳng thà lăn xuống giếng cái "chũm"
Chết ngủm rồi đời
Sống chi đây chịu chữ mồ côi
Loan xa phượng cách biết đứng ngồi với aỉ"
Có chàng trai thì quyết tâm đem tuổi thanh xuân gửi vào cửa Phật:
"Nếu mà không lấy đặng em
Anh về đóng cửa cài rèm đi tu"
Chàng vừa muốn tỏ lòng mình vừa muốn thử lòng người yêu. Và cô nàng cũng tỏ ra quyết tâm không kém. Chàng đi đến đâu nàng theo đến đó để thách thức cùng số phận:
"Tu đâu cho em tu cùng
May ra thành Phật thờ chung một chùa"
Bằng câu đùa dí dỏm của mình, cô nàng đã làm nhẹ hẳn tầm nghiêm trọng của vấn đề trong tư tưởng anh chàng và cũng hóa giải tâm tư lo âu, phiền muộn của chàng - "Có gì đáng bi quan đến thế? Cái chính là em vẫn giữ vững lập trường" - đồng thời cũng hàm thêm chút chế giễu - "Mà có chắc là tu được không đấỷ".
Khi yêu, nhiều cô gái cũng mạnh dạn bày tỏ tình cảm của mình không kém các chàng trai.
"Phải chi cắt ruột đừng đau
Để em cắt ruột em trao anh mang về"
Không tiếc cả thân thể, sinh mạng của mình, nhưng cô gái chỉ... sợ đau, thật là một cái sợ đầy nữ tính rất đáng yêu. Hay khi chàng trai muốn liều mình chứng tỏ tình yêu, nhưng cũng lại "nhát gan" đến bật cười:
"Gá duyên chẳng đặng hội này
Tôi chèo ghe ra sông cái, nước lớn đầy... tôi chèo vô"
Tinh nghịch, hóm hỉnh những lúc đùa vui và cả những khi thất vọng, đó là vũ khí tinh thần của người lao động để chống chọi những khắc nghiệt của hoàn cảnh. Những chàng trai, cô gái đất phương Nam đã lưu lại trong lời ca câu hát cả tâm hồn yêu đời, ham sống, hồn nhiên của họ trên con đường khai mở vùng đất mới của quê hương tiếp nối qua bao thế hệ - Đó là tinh thần phóng khoáng, linh hoạt, dày dạn ứng biến của những con người "Ra đi gặp vịt cũng lùa; Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu"...
Cánh Diều Tuổi Thơ
Tuổi thơ ai hẳn cũng đã một lần rong chơi trên đồng cỏ, hồ hởi neo những cánh diều no gió chở ước mơ lang thang. Qua bao cánh đồng, bao luỹ tre làng thân thuộc, trò chơi hồn nhiên ấy đã thành nét văn hoá đẹp nhất trong ký ức hồn nhiên.
Không hồn nhiên sao được, khi giữa một chiều vàng thu rực rỡ, trên con đường đê chạy dài hay lối mòn nhỏ đan dọc ngang những ô ruộng bàn cờ, chợt lấp lánh xuất hiện trên bầu trời một cánh diều mảnh dẻ. Con diều nhỏ bay chấp chới, bỏ mặc cặp sách, vở bút trên vệ cỏ, người thả diều vừa rời trường làng. Lại cũng có đôi mắt trẻ tròn xoe dõi theo, la chí choé nếu cánh diều lạng đi không cất nổi mình trước gió. Đó là đám bạn lau nhau cùng đi chăn bò, chăn trâu. Trẻ con thuở ấy cũng chẳng khác là bao với đám trẻ bây giờ, vẫn hồn nhiên tinh nghịch, không kịp ca véo von dặn trâu như lời bà dạy trong truyện kể, vội vã đóng cọc, neo trâu vào một đám cỏ xanh. Con trâu ăn cỏ vòng quanh chiếc cọc. Còn cánh diều cứ vi vút mãi giữa trời. Diều liệng tròn, bay bổng, diều sà xuống thấp... hút hồn bao đôi mắt trẻ. Cánh diều thì mỏng manh lắm. Một vài thanh tre chuốt vụng, hai mặt giấy bồi cũng cuộn chỉ mẹ để dành may áo sang đông... đã có một cánh diều chở đầy tình yêu và sự sống.
Giữa không gian bao la, nếu bất chợt gặp một cánh diều bay trên trời cao, cánh diều công phu, nhiều màu, mô phỏng nhiều hình chim, bướm... hẳn sẽ càng bồi hồi như gặp lại người thân. Nhưng ngày nay, diều chim Lạc-Việt, diều trống đồng Đông Sơn, diều Tấm Cám, diều Thạch Sanh... dù đã bay trên bầu trời bè bạn năm châu, các nghệ nhân cũng không thể làm sống lại niềm háo hức hồn nhiên vừa thổi sáo, vừa cuốn diều của tuổi thơ trong trẻo. Cũng may, trên vệ cỏ bờ đê nào đó, trong lớp sương chiều mờ ảo, bọn trẻ vẫn còn biết quay những ống bơ lửa để ủ ấm ước mơ, để vụng về chắp cánh những thân diều
Không hồn nhiên sao được, khi giữa một chiều vàng thu rực rỡ, trên con đường đê chạy dài hay lối mòn nhỏ đan dọc ngang những ô ruộng bàn cờ, chợt lấp lánh xuất hiện trên bầu trời một cánh diều mảnh dẻ. Con diều nhỏ bay chấp chới, bỏ mặc cặp sách, vở bút trên vệ cỏ, người thả diều vừa rời trường làng. Lại cũng có đôi mắt trẻ tròn xoe dõi theo, la chí choé nếu cánh diều lạng đi không cất nổi mình trước gió. Đó là đám bạn lau nhau cùng đi chăn bò, chăn trâu. Trẻ con thuở ấy cũng chẳng khác là bao với đám trẻ bây giờ, vẫn hồn nhiên tinh nghịch, không kịp ca véo von dặn trâu như lời bà dạy trong truyện kể, vội vã đóng cọc, neo trâu vào một đám cỏ xanh. Con trâu ăn cỏ vòng quanh chiếc cọc. Còn cánh diều cứ vi vút mãi giữa trời. Diều liệng tròn, bay bổng, diều sà xuống thấp... hút hồn bao đôi mắt trẻ. Cánh diều thì mỏng manh lắm. Một vài thanh tre chuốt vụng, hai mặt giấy bồi cũng cuộn chỉ mẹ để dành may áo sang đông... đã có một cánh diều chở đầy tình yêu và sự sống.
Giữa không gian bao la, nếu bất chợt gặp một cánh diều bay trên trời cao, cánh diều công phu, nhiều màu, mô phỏng nhiều hình chim, bướm... hẳn sẽ càng bồi hồi như gặp lại người thân. Nhưng ngày nay, diều chim Lạc-Việt, diều trống đồng Đông Sơn, diều Tấm Cám, diều Thạch Sanh... dù đã bay trên bầu trời bè bạn năm châu, các nghệ nhân cũng không thể làm sống lại niềm háo hức hồn nhiên vừa thổi sáo, vừa cuốn diều của tuổi thơ trong trẻo. Cũng may, trên vệ cỏ bờ đê nào đó, trong lớp sương chiều mờ ảo, bọn trẻ vẫn còn biết quay những ống bơ lửa để ủ ấm ước mơ, để vụng về chắp cánh những thân diều
Ca Dao - Tình Yêu ở Việt Nam
Tình yêu vẫn luôn là một đề tài muôn thuở của văn học ở mọi giai đoạn. Nhắc đến những bài thơ tình ta không khỏi nhớ đến những nhà thơ lớn như: Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Huy Cận..., hay những nhà thơ thời nay như: Đỗ Trung Quân, Phan Thị Thanh Nhàn... Họ là những nhà thơ trong giai đoạn thơ văn hiện đạị Nhưng đã là người Việt Nam thì thật thiếu sót nếu ta không nhớ đến kho tàng văn chương truyền miệng của cha ông từ ngàn xưa để lại: Thơ ca dân gian.
Ta hãy quay về cội nguồn như tìm lại chính mình qua một khía cạnh của thơ ca dân gian: Ca dao Việt Nam. Chúng ta cùng nhìn lại những bài ca dao mang chủ đề về tình yêụ Đó là những vần thơ trữ tình, sâu sắc, đậm đà chất dân tộc và rất phổ biến trong dân gian mà có thể bạn đã từng nghe qua.
Ca dao là một dạng của thơ và ở thời đại nào nó cũng chinh phục được người đọc. Hơn nữa, những bài ca dao với nội dung về tình yêu không cứng nhắc với những niêm luật phức tạp như thơ cổ điển. Để hiểu rõ ràng hơn, đầu tiên ta thấy rằng tình yêu nam nữ trong ca dao được thể hiện rất trong sáng và lành mạnh:
Thuyền ai lơ lửng bên sông
Có lòng đợi khách hay không hỡi thuyền?
Ta thấy sự bài tỏ tình cảm tế nhị qua hình ảnh bến và thuyền:
Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
Trong bước đầu đi đến tình yêu, đâu có ai trong chúng ta dễ dàng bày tỏ được tình cảm của mình một cách "xuôi chèo mát mái" đâu. Chỉ với hai câu ca dao ngắn gọn mà đã lột tả được sự ngập ngừng rất dễ thương đó:
Thò tay mà bứt cọng ngò
Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ
Ta tìm thấy trong ca dao Việt nam những hình ảnh nói lên tình cảm chân thật, sâu đậm của người dân:
Nước sông Tô vừa trong vừa mát
Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh
Dừng chèo muốn tỏ tâm tình
Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu.
Lòng chung thuỷ của người Việt Nam là một trong những nội dung tất yếu thể hiện qua ca dao:
Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng nghĩa dày
Dù có xa nhau đi nữa cũng ba vạn chín nghìn ngày mới xa.
Lòng chung thuỷ sắt son cũng được thể hiện thật tuyệt vời như:
Chừng nào cho sóng bỏ ghành
Cù lao bỏ biển anh mới đành bỏ em.
Đặc điểm của ca dao Việt Nam là ngắn gọn, súc tích. Nó được hình thành bằng những hình ảnh, ngôn từ hết sức giản dị và chân thật gần gũi với đời sống người dân. Do đó, chỉ cần đọc qua ta có thể nhớ được dễ dàng nhưng có đọc đi đọc lại ta mới thấy hết được cái hay, cái đẹp của ca dao Việt Nam trong cách thể hiện nội dung:
Thương anh vô giá quá chừng
Trèo truông quên mệt ngậm gừng quên cay
Nhác trông thấy bóng anh đây
Ăn chín lạng hạt ớt ngọt ngay như đường.
Ca dao Việt Nam không phải là những lời thơ bóng bẩy, nó gợi lên những hình ảnh thiên nhiên gần gũi nên dễ dàng đi vào lòng người:
Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.
Bên cạnh đó, có những bài ca dao mà trong đó ta chỉ thấy niềm cảm thông và tình yêu cao thượng mà không thấy sự giận hờn hay trách móc:
Mình nói dối ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò
Con mình những trấu cùng tro
Ta đi xách nước rửa cho con mình.
Tất cả những mối tình không phải lúc nào cũng đi đến kết cục hạnh phúc. Trong một mối tình sẽ có nước mắt, hạnh phúc hay sự khổ đau khi chia xa và ca dao Việt Nam cũng không ngoài quy luật đó:
Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác xưa.
Hay là:
Chè non ai hái nửa nương
Cau non nửa chẽ người thương nửa chừng
Hai hàng nước mắt ngập ngừng
Thà rằng ngày trước ta đừng gặp nhau.
Như vậy đó, ca dao Việt Nam được hình thành và truyền từ đời này qua đời khác. Nó vẫn mang những nội dung không ngoài những quy luật của cuộc sống. Bằng những hình ảnh được nhân hoá, bằng phương pháp ẩn dụ khéo léo và tài tình, ca dao Việt Nam nói lên được những tâm tư tình cảm của người dân, những tình cảm mộc mạc, trong sáng và đậm đà tình nghĩa.
Trên đây chỉ là một số ít những câu ca dao nói về tình yêu trong thơ ca dân gian. Nếu có dịp, chúng ta sẽ nhắc đến những câu ca dao, tục ngữ nói về thiên nhiên, tình cảm gia đình hay về những kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày.
Cho dù đi bất cư nơi đâu, ta vẫn cảm thấy tâm hồn thanh thản và ấm áp khi nghe lại những câu ca dao trong làng thơ ca dân gian Việt Nam.
Có dịp nhìn lại để chúng ta có dịp nhắc nhở nhau rằng thơ ca dân gian là một kho tàng vô giá của dân tộc Việt, một dân tộc anh hùng.
Ta hãy quay về cội nguồn như tìm lại chính mình qua một khía cạnh của thơ ca dân gian: Ca dao Việt Nam. Chúng ta cùng nhìn lại những bài ca dao mang chủ đề về tình yêụ Đó là những vần thơ trữ tình, sâu sắc, đậm đà chất dân tộc và rất phổ biến trong dân gian mà có thể bạn đã từng nghe qua.
Ca dao là một dạng của thơ và ở thời đại nào nó cũng chinh phục được người đọc. Hơn nữa, những bài ca dao với nội dung về tình yêu không cứng nhắc với những niêm luật phức tạp như thơ cổ điển. Để hiểu rõ ràng hơn, đầu tiên ta thấy rằng tình yêu nam nữ trong ca dao được thể hiện rất trong sáng và lành mạnh:
Thuyền ai lơ lửng bên sông
Có lòng đợi khách hay không hỡi thuyền?
Ta thấy sự bài tỏ tình cảm tế nhị qua hình ảnh bến và thuyền:
Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
Trong bước đầu đi đến tình yêu, đâu có ai trong chúng ta dễ dàng bày tỏ được tình cảm của mình một cách "xuôi chèo mát mái" đâu. Chỉ với hai câu ca dao ngắn gọn mà đã lột tả được sự ngập ngừng rất dễ thương đó:
Thò tay mà bứt cọng ngò
Thương em đứt ruột giả đò ngó lơ
Ta tìm thấy trong ca dao Việt nam những hình ảnh nói lên tình cảm chân thật, sâu đậm của người dân:
Nước sông Tô vừa trong vừa mát
Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh
Dừng chèo muốn tỏ tâm tình
Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu.
Lòng chung thuỷ của người Việt Nam là một trong những nội dung tất yếu thể hiện qua ca dao:
Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng nghĩa dày
Dù có xa nhau đi nữa cũng ba vạn chín nghìn ngày mới xa.
Lòng chung thuỷ sắt son cũng được thể hiện thật tuyệt vời như:
Chừng nào cho sóng bỏ ghành
Cù lao bỏ biển anh mới đành bỏ em.
Đặc điểm của ca dao Việt Nam là ngắn gọn, súc tích. Nó được hình thành bằng những hình ảnh, ngôn từ hết sức giản dị và chân thật gần gũi với đời sống người dân. Do đó, chỉ cần đọc qua ta có thể nhớ được dễ dàng nhưng có đọc đi đọc lại ta mới thấy hết được cái hay, cái đẹp của ca dao Việt Nam trong cách thể hiện nội dung:
Thương anh vô giá quá chừng
Trèo truông quên mệt ngậm gừng quên cay
Nhác trông thấy bóng anh đây
Ăn chín lạng hạt ớt ngọt ngay như đường.
Ca dao Việt Nam không phải là những lời thơ bóng bẩy, nó gợi lên những hình ảnh thiên nhiên gần gũi nên dễ dàng đi vào lòng người:
Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau.
Bên cạnh đó, có những bài ca dao mà trong đó ta chỉ thấy niềm cảm thông và tình yêu cao thượng mà không thấy sự giận hờn hay trách móc:
Mình nói dối ta mình hãy còn son
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò
Con mình những trấu cùng tro
Ta đi xách nước rửa cho con mình.
Tất cả những mối tình không phải lúc nào cũng đi đến kết cục hạnh phúc. Trong một mối tình sẽ có nước mắt, hạnh phúc hay sự khổ đau khi chia xa và ca dao Việt Nam cũng không ngoài quy luật đó:
Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác xưa.
Hay là:
Chè non ai hái nửa nương
Cau non nửa chẽ người thương nửa chừng
Hai hàng nước mắt ngập ngừng
Thà rằng ngày trước ta đừng gặp nhau.
Như vậy đó, ca dao Việt Nam được hình thành và truyền từ đời này qua đời khác. Nó vẫn mang những nội dung không ngoài những quy luật của cuộc sống. Bằng những hình ảnh được nhân hoá, bằng phương pháp ẩn dụ khéo léo và tài tình, ca dao Việt Nam nói lên được những tâm tư tình cảm của người dân, những tình cảm mộc mạc, trong sáng và đậm đà tình nghĩa.
Trên đây chỉ là một số ít những câu ca dao nói về tình yêu trong thơ ca dân gian. Nếu có dịp, chúng ta sẽ nhắc đến những câu ca dao, tục ngữ nói về thiên nhiên, tình cảm gia đình hay về những kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày.
Cho dù đi bất cư nơi đâu, ta vẫn cảm thấy tâm hồn thanh thản và ấm áp khi nghe lại những câu ca dao trong làng thơ ca dân gian Việt Nam.
Có dịp nhìn lại để chúng ta có dịp nhắc nhở nhau rằng thơ ca dân gian là một kho tàng vô giá của dân tộc Việt, một dân tộc anh hùng.
Bánh Phu Thê Của Người Việt
Được gói bằng những tấm lá dong giản dị, rồi luộc lên, bánh phu thê không khoe mùi tỏa hương như bánh rán, bánh khúc; chỉ tới khi bóc bánh đặt lên đĩa sứ người ta mới thật sự ngỡ ngàng.
Dưới lớp vỏ bánh sắc vàng trong suốt rắc lấm tấm những hạt vừng đen, nhân bánh hiện ra. Ngoài đậu xanh đãi sạch vỏ đã được hấp chín đánh tơi, người ta còn cho thêm đường trắng, cùi dừa, hạt sen và hương ngũ vị. Bột làm bánh phải được làm từ gạo nếp, xay bằng cối nước, sau đó lọc lấy chất tinh, ép cho ráo nước rồi phơi khô (còn bột thô thì bán cho hàng bánh rán). Tới khi làm bánh phải dùng nước quả dành dành nhào bột để lấy mầu sắc tự nhiên chứ không được pha phẩm mầu. Người ta còn nạo đu đủ xanh, ngâm phèn rồi cắt nhỏ nhào lẫn với bột để bánh có thêm độ giòn.
Khi ăn bánh ta sẽ thấy độ dẻo của nếp, độ giòn của đu đủ, độ ngậy của đậu xanh, vị béo của cùi dừa, vị bùi của hạt sen, vị ngọt của đường..., tất cả hòa quyện vào nhau làm thành hương vị rất riêng của bánh. Nhân bánh hình tròn nằm trong vỏ bánh bẻ khuôn hình vuông bằng lá dừa, như biểu tượng vuông tròn của triết lý âm dương. Người ta dàn mỏng bột lên khuôn, đặt nhân vào một đầu rồi đắp phần bột còn lại lên nhân như thể hiện sự ôm ấp, che chở của tình phu thê. Triết lý ngũ hành cũng được thể hiện một cách tinh tế qua năm mầu của bánh, đó là mầu trắng của bột lọc và cùi dừa, mầu vàng của dành dành và nhân đậu, mầu đen của hạt vừng, mầu xanh của lá, mầu đỏ của lạt buộc. Tất cả như biểu tượng cho sự hòa hợp của đất trời và con người. Lá gói bánh cũng là lá dong gói bánh chưng, nhưng phải làm kỹ hơn, sau khi rửa sạch lá để ráo nước người ta phải tước bớt cọng để khi gói bánh được mềm mại. Lá lót trong phải là lá chuối tây dẻo luộc chín hong khô chứ không được dùng lá chuối tiêu. Người ta còn quét lên lá một lớp mỡ để khi bóc bánh không bị dính, lại làm cho bánh có độ ngậy đặc trưng.
Mỗi nhà đều có một bí quyết làm bánh riêng vì vậy bánh của mỗi nhà đều có hương vị riêng, một nhãn hiệu riêng. Tất cả các khâu từ nhào bột, nặn bánh, làm nhân, tước lá, luộc bánh... đều phải làm thủ công, tốn nhiều nhân lực. Bánh gói xong được buộc dây rơm nếp, luộc xong, người ta tháo bỏ dây rơm, úp bụng hai chiếc bánh vào nhau rồi dùng lạt đỏ buộc thành cặp; có lẽ vì vậy mà người đời gọi là bánh phu thê.
Ngày nay kinh tế đã phát triển, mức sống đã cao hơn nhưng bánh phu thê vẫn là thứ bánh quý tộc được nhiều người ưa thích, ai đã một lần thưởng thức thì khó có thể nào quên.
Dưới lớp vỏ bánh sắc vàng trong suốt rắc lấm tấm những hạt vừng đen, nhân bánh hiện ra. Ngoài đậu xanh đãi sạch vỏ đã được hấp chín đánh tơi, người ta còn cho thêm đường trắng, cùi dừa, hạt sen và hương ngũ vị. Bột làm bánh phải được làm từ gạo nếp, xay bằng cối nước, sau đó lọc lấy chất tinh, ép cho ráo nước rồi phơi khô (còn bột thô thì bán cho hàng bánh rán). Tới khi làm bánh phải dùng nước quả dành dành nhào bột để lấy mầu sắc tự nhiên chứ không được pha phẩm mầu. Người ta còn nạo đu đủ xanh, ngâm phèn rồi cắt nhỏ nhào lẫn với bột để bánh có thêm độ giòn.
Khi ăn bánh ta sẽ thấy độ dẻo của nếp, độ giòn của đu đủ, độ ngậy của đậu xanh, vị béo của cùi dừa, vị bùi của hạt sen, vị ngọt của đường..., tất cả hòa quyện vào nhau làm thành hương vị rất riêng của bánh. Nhân bánh hình tròn nằm trong vỏ bánh bẻ khuôn hình vuông bằng lá dừa, như biểu tượng vuông tròn của triết lý âm dương. Người ta dàn mỏng bột lên khuôn, đặt nhân vào một đầu rồi đắp phần bột còn lại lên nhân như thể hiện sự ôm ấp, che chở của tình phu thê. Triết lý ngũ hành cũng được thể hiện một cách tinh tế qua năm mầu của bánh, đó là mầu trắng của bột lọc và cùi dừa, mầu vàng của dành dành và nhân đậu, mầu đen của hạt vừng, mầu xanh của lá, mầu đỏ của lạt buộc. Tất cả như biểu tượng cho sự hòa hợp của đất trời và con người. Lá gói bánh cũng là lá dong gói bánh chưng, nhưng phải làm kỹ hơn, sau khi rửa sạch lá để ráo nước người ta phải tước bớt cọng để khi gói bánh được mềm mại. Lá lót trong phải là lá chuối tây dẻo luộc chín hong khô chứ không được dùng lá chuối tiêu. Người ta còn quét lên lá một lớp mỡ để khi bóc bánh không bị dính, lại làm cho bánh có độ ngậy đặc trưng.
Mỗi nhà đều có một bí quyết làm bánh riêng vì vậy bánh của mỗi nhà đều có hương vị riêng, một nhãn hiệu riêng. Tất cả các khâu từ nhào bột, nặn bánh, làm nhân, tước lá, luộc bánh... đều phải làm thủ công, tốn nhiều nhân lực. Bánh gói xong được buộc dây rơm nếp, luộc xong, người ta tháo bỏ dây rơm, úp bụng hai chiếc bánh vào nhau rồi dùng lạt đỏ buộc thành cặp; có lẽ vì vậy mà người đời gọi là bánh phu thê.
Ngày nay kinh tế đã phát triển, mức sống đã cao hơn nhưng bánh phu thê vẫn là thứ bánh quý tộc được nhiều người ưa thích, ai đã một lần thưởng thức thì khó có thể nào quên.
Áo dài - Việt Nam
Một trong những vấn đề còn khá đau đầu cho giới nghiên cứu nghiêm túc là việc xác định thế nào là Truyền thống Việt nam, thế nào là Bản sắc văn hóa Việt nam. Tuy còn một vài nhận định chưa thống nhất, nhưng chắc chắn, chiếc Áo Dài là một bản sắc Việt Nam, và nó cũng đã phải trải qua những thăng trầm. Về chiếc áo này, Đàn Chim Việt xin chuyển đến các bạn cách nhìn của NORA LUTTMẺ, một nữ phóng viên trẻ chuyên viết cho các tờ báo lớn của Đức, một người đã vài năm nghiên cứu Văn hóa Việt Nam tại Hà nội, một người khá thạo tiếng Việt, và như lời chị tâm sự, "lúc nào cũng tương tư Việt Nam". Bài dưới đây đã được đăng trên tờ "Frankfurter Allgemein Zeitung"- một trong những nhật báo có uy tín nhất tại Cộng hòa Liên bang Đức Lấy dáng hình làm sự giái phóng
Từ khu nhà kiểu thuộc địa màu vàng trong khu Hà nội cổ, một đám mây trắng tỏa ra đường phố. Dưới những cánh hoa phượng đỏ rực màu lửa, hàng chục tà lụa phấp phới đầy gợi cảm. Đó là Áo Dài- đồng phục của những cô học trò. Giờ học đã tan, các cô gái cùng với những chiếc xe đạp rỉ hoen, rúc rích hòa vào dòng chảy hỗn độn của người đi bộ, của xích lô và xe máy. Trong cái đám đông đó, cô gái ngồi trước, lưng thẳng như một cây nến, cánh tay cong cong, điệu nghệ và duyên dáng điều khiển chiếc xe đạp. Cô gái ngồi sau, chân bắt chéo, theo đúng phong dáng của một tiểu thự Xe máy bóp còi inh ỏi lao đi trên đường phố ngập người; trên những chiếc Honda, những thiếu phụ trẻ lao vùn vụt qua đám nữ học trò. Găng tay kín mít để che tránh màu nâu đáng sợ, mũ cói sùm sụp để ngăn ánh mặt trời. Và cả họ nữa cũng mang theo những tà Áo Dài trong đủ sắc màu - đỏ, vàng, xanh lá cây, hay rực rỡ cánh hoạ Đám đàn ông dõi mắt nhìn theo. Vì ánh mắt bị phân tán như vậy, mà lắm khi xe cộ đâm nhau. Lý do đơn giản là Áo Dài che đậy tất cả, mà lại chả giấu giếm tý gì: phía trên, như một lớp da thứ hai, dán chặt vào bộ ngực và cánh tay. Cổ được tôn lên bởi một vòng cổ áo đứng. Và từ thắt lưng trở xuống, được xẻ làm đôi, tà áo nhẹ bay, uốn lượn tới gần đầu gối. Dưới đó là chiếc quần rộng, một màu. Mặc cho cặp dép cao gót không thể thiếu, chiếc quần vẫn phủ kín đôi chân và khẽ chạm đất cùng mỗi bước đị
Áo Dài tô đậm thêm những ý tưởng về người con gái Việt nam hiền dịu, luôn sẵn mỉm cười. Không có một bộ phim chiến tranh nào của Mỹ mà lại thiếu bóng dáng những cô gái yêu kiều trong chiếc Áo Dài làm mê mẩn biết bao người lính. Tất cả những phim phóng sự về Đông dương đều không thể bỏ qua hình ảnh những nữ sinh với tà Áo Dài trắng, ít nhất cũng là trong đoạn dạo đầu. Và ngay cả Việt nam hiện thực cũng không thể thiếu những người phụ nữ duyên dáng với chiếc Áo Dài trong ngày lễ lạt, dù là đám cưới, hội làng, hay là đám tang. Áo Dài là trang phục dân tộc của người phụ nữ Việt nam, nhưng không phải là một thứ áo quần truyền thống. Kiểu cách Áo Dài đã được một nhà tạo mốt của Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà nội phác thảo mãi vào những năm 30 của Thế kỷ 20.
Cho đến tận thế kỷ 17, phụ nữ Việt nam-nông dân cũng như công chúa, đều mặc váy dài. Thực ra, vào thế kỷ 15, bộ máy đô hộ Trung Quốc vẫn còn tìm đủ mọi cách để người Việt nam phải theo mốt Trung Hoa- với những chiếc quần cho đàn bà. Nhưng chỉ từ thế kỷ 18, giới phụ nữ quý tộc mới bắt đầu chấp nhận cái cách diện Phương Bắc này. Dưới những nếp quần thùng thình và chiếc áo cánh dài phấp phới, từ đó, họ che giấu hết thân thể của mình, đúng như lời răn dạy Khổng giáo của giai cấp thống trị. Giới phụ nữ trong đám thường dân thì mãi đến đầu thế kỷ 19 mới chịu làm quen với chiếc quần, và phải do một sự cưỡng bức. Vua Minh Mạng, một người theo đuổi mẫu hình nhà nước theo Hoàng đế Trung Hoa, công bố lệnh mọi người phải mặc quần. Với những bài dân ca, người phụ nữ nông thôn biểu lộ sự bất bình:
Tháng Tám có chiếu vua ra,
Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi thì phải lột quần chồng sao đang!
Có quần ra quán bán hàng,
Không quần ra đứng đầu làng trông qua .
Mặc cho mọi phản ứng, cuối cùng Minh Mang cũng thành công. Người phụ nữ nông dân phải thay váy bằng quần. Nhưng giáo lý Khổng tử- cùng với những lễ nghi mà nhà vua mong mỏi, vẫn không thấm được vào quần chúng. Ngược với những luân lý triều đình, người phụ nữ nông dân vẫn xắn cao quần khi làm ruộng và khoe đùi chẳng một chút thẹn thùng. Đối với họ, chỉ có phần ngực là phải kiêng kỵ. Vì vậy, họ đeo yếm ôm chặt lấy bầu vú. Bên ngoài, họ mặc một chiếc áo rộng tà với tay áo bó. So với quần áo đàn ông, trang phục của người phụ nữ hầu như chẳng có gì khác biệt.
Chỉ đến khi Áo Dài- với đặc tính tôn hình thể, xuất hiện, thì cái sự trang phục đơn điệu này mới cáo chung. Mốt mới này có thể được coi là một cuộc cách mạng- những tạp chí phụ nữ Việt nam quảng cáo như vậy. Giải phóng phụ nữ với sự trợ giúp của Mốt. Giới phê phán thì phẫn nộ với dáng hình mời mọc của những mệnh phụ đứng đắn. Lờ tịt đám người này, năm 1936, nữ nhà báo Cô Duyên lớn tiếng kêu gọi sự giải thoát khỏi những bó buộc trang phục truyền thống :"Cái thiêng liêng giả tạo mang tính đạo đức cổ hủ đã nhắm mắt trước vẻ đẹp phần trên của phụ nữ. Tên gọi của nó là: Bộ ngực của đàn bà có thể làm đỏ mặt bất kỳ một tinh thần phẩm hạnh và bất kỳ một người con gái gia đình tử tế nào (...) Người ta muốn rằng, người đàn bà phải che đậy tất cả: Người nào có bộ ngực phẳng lỳ, thì được coi là đạo đức, và theo một thứ luân lý dở hơi thì cặp vú- thực ra là bộ phận tuyệt mỹ nhất của người đàn bà, lại là phần cơ thể bị công kích đầu tiên. Thời nay đã khác: Chúng ta dám phát minh. Bây giờ chúng ta dễ thở hơn. Và nếu vẻ đẹp tự nhiên của chúng ta làm vẩn mắt các nhà đạo đức, thì đó thực là nỗi bất hạnh của họ."
Thế là vào những năm 30, người phụ nữ thành phố tân thời mang chôn đi bộ trang phục đã giam kín thân thể của mình. Ở làng quê thì khác: nơi đây, hoàn cảnh kinh tế gia đình ngăn cấm mọi thứ mốt mới. Thêm vào đó, Áo Dài có vẻ như hoàn toàn không phù hợp với lao động chân tay. Do vậy, những người cộng sản cũng đã nguyền rủa Áo Dài là một thứ trang phục phong kiến. Ở phía Bắc đất nước, Áo Dài nhanh chóng biến mất sau khi ông Hồ Chí Minh đánh thắng thực dân Pháp vào năm 1954; ở phía Nam, nó chỉ mất đi sau sự thống quyền cộng sản năm 1975.
Ngày nay, Áo Dài đang đi trên một chặng đường hoa lá mới. Từ ngày mở cửa Việt nam cuối những năm 80, nữ sinh, nữ nhân viên ngân hàng, nữ công chức bưu chính lại thong thả dạo chơi trong những cánh Áo Dài. Trong đám cưới, Áo Dài cũng dần dần thay thế những lòa xòa của bộ áo cưới đăng-ten; và trong những lễ hội thôn quê, nó cũng hơn hẳn T-Shirt và Jeans. Ngay cả phông biển các văn phòng du lịch nhà nước cũng phải dùng Áo Dài trong quảng cáo. Và những nhà cắt may luôn thử nghiệm ra những Modell mới. Mẫu hình thay đổi, phong cách đổi thay. Xu thế thời thượng hiện nay: Vải dệt của các sắc dân thiểu số. Dưới những năm dài trong ý thức hệ cộng sản, loại chất liệu này- cũng như Áo Dài, đã có một thời biến mất. Giờ đây, chúng ca khúc khải hoàn như là một biểu tượng cho nền văn hóa phong phú của Việt nam.
Từ khu nhà kiểu thuộc địa màu vàng trong khu Hà nội cổ, một đám mây trắng tỏa ra đường phố. Dưới những cánh hoa phượng đỏ rực màu lửa, hàng chục tà lụa phấp phới đầy gợi cảm. Đó là Áo Dài- đồng phục của những cô học trò. Giờ học đã tan, các cô gái cùng với những chiếc xe đạp rỉ hoen, rúc rích hòa vào dòng chảy hỗn độn của người đi bộ, của xích lô và xe máy. Trong cái đám đông đó, cô gái ngồi trước, lưng thẳng như một cây nến, cánh tay cong cong, điệu nghệ và duyên dáng điều khiển chiếc xe đạp. Cô gái ngồi sau, chân bắt chéo, theo đúng phong dáng của một tiểu thự Xe máy bóp còi inh ỏi lao đi trên đường phố ngập người; trên những chiếc Honda, những thiếu phụ trẻ lao vùn vụt qua đám nữ học trò. Găng tay kín mít để che tránh màu nâu đáng sợ, mũ cói sùm sụp để ngăn ánh mặt trời. Và cả họ nữa cũng mang theo những tà Áo Dài trong đủ sắc màu - đỏ, vàng, xanh lá cây, hay rực rỡ cánh hoạ Đám đàn ông dõi mắt nhìn theo. Vì ánh mắt bị phân tán như vậy, mà lắm khi xe cộ đâm nhau. Lý do đơn giản là Áo Dài che đậy tất cả, mà lại chả giấu giếm tý gì: phía trên, như một lớp da thứ hai, dán chặt vào bộ ngực và cánh tay. Cổ được tôn lên bởi một vòng cổ áo đứng. Và từ thắt lưng trở xuống, được xẻ làm đôi, tà áo nhẹ bay, uốn lượn tới gần đầu gối. Dưới đó là chiếc quần rộng, một màu. Mặc cho cặp dép cao gót không thể thiếu, chiếc quần vẫn phủ kín đôi chân và khẽ chạm đất cùng mỗi bước đị
Áo Dài tô đậm thêm những ý tưởng về người con gái Việt nam hiền dịu, luôn sẵn mỉm cười. Không có một bộ phim chiến tranh nào của Mỹ mà lại thiếu bóng dáng những cô gái yêu kiều trong chiếc Áo Dài làm mê mẩn biết bao người lính. Tất cả những phim phóng sự về Đông dương đều không thể bỏ qua hình ảnh những nữ sinh với tà Áo Dài trắng, ít nhất cũng là trong đoạn dạo đầu. Và ngay cả Việt nam hiện thực cũng không thể thiếu những người phụ nữ duyên dáng với chiếc Áo Dài trong ngày lễ lạt, dù là đám cưới, hội làng, hay là đám tang. Áo Dài là trang phục dân tộc của người phụ nữ Việt nam, nhưng không phải là một thứ áo quần truyền thống. Kiểu cách Áo Dài đã được một nhà tạo mốt của Trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà nội phác thảo mãi vào những năm 30 của Thế kỷ 20.
Cho đến tận thế kỷ 17, phụ nữ Việt nam-nông dân cũng như công chúa, đều mặc váy dài. Thực ra, vào thế kỷ 15, bộ máy đô hộ Trung Quốc vẫn còn tìm đủ mọi cách để người Việt nam phải theo mốt Trung Hoa- với những chiếc quần cho đàn bà. Nhưng chỉ từ thế kỷ 18, giới phụ nữ quý tộc mới bắt đầu chấp nhận cái cách diện Phương Bắc này. Dưới những nếp quần thùng thình và chiếc áo cánh dài phấp phới, từ đó, họ che giấu hết thân thể của mình, đúng như lời răn dạy Khổng giáo của giai cấp thống trị. Giới phụ nữ trong đám thường dân thì mãi đến đầu thế kỷ 19 mới chịu làm quen với chiếc quần, và phải do một sự cưỡng bức. Vua Minh Mạng, một người theo đuổi mẫu hình nhà nước theo Hoàng đế Trung Hoa, công bố lệnh mọi người phải mặc quần. Với những bài dân ca, người phụ nữ nông thôn biểu lộ sự bất bình:
Tháng Tám có chiếu vua ra,
Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi thì phải lột quần chồng sao đang!
Có quần ra quán bán hàng,
Không quần ra đứng đầu làng trông qua .
Mặc cho mọi phản ứng, cuối cùng Minh Mang cũng thành công. Người phụ nữ nông dân phải thay váy bằng quần. Nhưng giáo lý Khổng tử- cùng với những lễ nghi mà nhà vua mong mỏi, vẫn không thấm được vào quần chúng. Ngược với những luân lý triều đình, người phụ nữ nông dân vẫn xắn cao quần khi làm ruộng và khoe đùi chẳng một chút thẹn thùng. Đối với họ, chỉ có phần ngực là phải kiêng kỵ. Vì vậy, họ đeo yếm ôm chặt lấy bầu vú. Bên ngoài, họ mặc một chiếc áo rộng tà với tay áo bó. So với quần áo đàn ông, trang phục của người phụ nữ hầu như chẳng có gì khác biệt.
Chỉ đến khi Áo Dài- với đặc tính tôn hình thể, xuất hiện, thì cái sự trang phục đơn điệu này mới cáo chung. Mốt mới này có thể được coi là một cuộc cách mạng- những tạp chí phụ nữ Việt nam quảng cáo như vậy. Giải phóng phụ nữ với sự trợ giúp của Mốt. Giới phê phán thì phẫn nộ với dáng hình mời mọc của những mệnh phụ đứng đắn. Lờ tịt đám người này, năm 1936, nữ nhà báo Cô Duyên lớn tiếng kêu gọi sự giải thoát khỏi những bó buộc trang phục truyền thống :"Cái thiêng liêng giả tạo mang tính đạo đức cổ hủ đã nhắm mắt trước vẻ đẹp phần trên của phụ nữ. Tên gọi của nó là: Bộ ngực của đàn bà có thể làm đỏ mặt bất kỳ một tinh thần phẩm hạnh và bất kỳ một người con gái gia đình tử tế nào (...) Người ta muốn rằng, người đàn bà phải che đậy tất cả: Người nào có bộ ngực phẳng lỳ, thì được coi là đạo đức, và theo một thứ luân lý dở hơi thì cặp vú- thực ra là bộ phận tuyệt mỹ nhất của người đàn bà, lại là phần cơ thể bị công kích đầu tiên. Thời nay đã khác: Chúng ta dám phát minh. Bây giờ chúng ta dễ thở hơn. Và nếu vẻ đẹp tự nhiên của chúng ta làm vẩn mắt các nhà đạo đức, thì đó thực là nỗi bất hạnh của họ."
Thế là vào những năm 30, người phụ nữ thành phố tân thời mang chôn đi bộ trang phục đã giam kín thân thể của mình. Ở làng quê thì khác: nơi đây, hoàn cảnh kinh tế gia đình ngăn cấm mọi thứ mốt mới. Thêm vào đó, Áo Dài có vẻ như hoàn toàn không phù hợp với lao động chân tay. Do vậy, những người cộng sản cũng đã nguyền rủa Áo Dài là một thứ trang phục phong kiến. Ở phía Bắc đất nước, Áo Dài nhanh chóng biến mất sau khi ông Hồ Chí Minh đánh thắng thực dân Pháp vào năm 1954; ở phía Nam, nó chỉ mất đi sau sự thống quyền cộng sản năm 1975.
Ngày nay, Áo Dài đang đi trên một chặng đường hoa lá mới. Từ ngày mở cửa Việt nam cuối những năm 80, nữ sinh, nữ nhân viên ngân hàng, nữ công chức bưu chính lại thong thả dạo chơi trong những cánh Áo Dài. Trong đám cưới, Áo Dài cũng dần dần thay thế những lòa xòa của bộ áo cưới đăng-ten; và trong những lễ hội thôn quê, nó cũng hơn hẳn T-Shirt và Jeans. Ngay cả phông biển các văn phòng du lịch nhà nước cũng phải dùng Áo Dài trong quảng cáo. Và những nhà cắt may luôn thử nghiệm ra những Modell mới. Mẫu hình thay đổi, phong cách đổi thay. Xu thế thời thượng hiện nay: Vải dệt của các sắc dân thiểu số. Dưới những năm dài trong ý thức hệ cộng sản, loại chất liệu này- cũng như Áo Dài, đã có một thời biến mất. Giờ đây, chúng ca khúc khải hoàn như là một biểu tượng cho nền văn hóa phong phú của Việt nam.
3/11/07
Đồ Trang Sức Của Phụ Nữ Việt Nam
Người Việt Nam từ hàng nghìn năm nay đã biết chế tác đồ trang sức với trình độ nghệ thuật ngày càng hoàn mỹ. Thông qua hiện vật trang sức, người xem có thể hiểu được sự thay đổi đến mức tinh xảo trong cách làm đẹp của phụ nữ Việt Nam...
Ngay từ thời kỳ đồ đá (cách đây khoảng 3000-5000 năm), người Việt cổ đã biết lấy đá cưa, đục, khoan, mài, đánh bóng... thành đồ trang sức. Đồ trang sức bằng đá ngay từ thời kỳ này đã đạt đến trình độ kỹ thuật tinh xảo và mang tính thẩm mỹ khá cao. Khuyên tai bằng đá, vòng khuyên nhiều kích cỡ, bản tròn, dày hoặc dẹt, màu xanh rêu, trắng, ngà với các sắc độ khác nhau. Vòng tay bằng đá mang nhiều hình thù, kiểu dáng: hình tròn, hình lục lăng, hình chữ nhật, hình trái xoan; mặt đá làm khá mịn, màu sắc đa dạng: xanh đen, xanh biếc, hồng vàng...
Trải qua một thời gian dài, nghệ thuật chế tạo đồ trang sức ngày càng phát triển đến mức hoàn thiện. Đặc biệt là sau sự chuyển biến từ thời kỳ đồ đá sang đồ kim khí (cách đây khoảng 3000 năm). Đồ trang sức bằng đồng rất đa dạng, nhiều chủng loại, kiểu dáng từ đai đầu, trâm cài đầu đến vòng cổ, vòng tay, bao tay, vòng chân, bao chân, đai áo...
Những chiếc đai đầu gắn lông chim là trang sức thiêng liêng và quý giá, phụ nữ thường đeo mỗi khi nhảy múa, ca hát trong các dịp hội hè, lễ tết. Bao đai, bao chân ngày ấy còn gắn với quả chuông nho nhỏ, trong lúc đi lại sẽ phát ra âm thanh như reo mừng. Hình thức vòng cũng khá phong phú, có cái để trơn, nhẵn, có cái trang trí hoa văn đơn giản. Khuy áo bằng đồng dáng cong mềm, hai đầu uốn vào trong thân khuy, hoặc thon dần, đến hết đường lượn lại hướng ra ngoài, ở giữa gắn khuy móc tròn. Mỗi chiếc khuy đai áo có thể dài đến 14 cm.
Hàng chục chiếc gương đồng đa dạng về kiểu dáng, kích cỡ là điểm nổi bật trong số các hiện vật trang sức phụ nữ niên đại thế kỷ XVI- XVII. Gương hình vuông, hình tròn, có tay cầm hình chữ nhật, có những chiếc gương chỉ là phiến đồng tròn, dày, trơn bóng.
Đồ trang sức của phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ thể hiện rõ nét óc thẩm mỹ, sự sáng tạo, đôi bàn tay khéo léo của người Việt xưa.
Ngay từ thời kỳ đồ đá (cách đây khoảng 3000-5000 năm), người Việt cổ đã biết lấy đá cưa, đục, khoan, mài, đánh bóng... thành đồ trang sức. Đồ trang sức bằng đá ngay từ thời kỳ này đã đạt đến trình độ kỹ thuật tinh xảo và mang tính thẩm mỹ khá cao. Khuyên tai bằng đá, vòng khuyên nhiều kích cỡ, bản tròn, dày hoặc dẹt, màu xanh rêu, trắng, ngà với các sắc độ khác nhau. Vòng tay bằng đá mang nhiều hình thù, kiểu dáng: hình tròn, hình lục lăng, hình chữ nhật, hình trái xoan; mặt đá làm khá mịn, màu sắc đa dạng: xanh đen, xanh biếc, hồng vàng...
Trải qua một thời gian dài, nghệ thuật chế tạo đồ trang sức ngày càng phát triển đến mức hoàn thiện. Đặc biệt là sau sự chuyển biến từ thời kỳ đồ đá sang đồ kim khí (cách đây khoảng 3000 năm). Đồ trang sức bằng đồng rất đa dạng, nhiều chủng loại, kiểu dáng từ đai đầu, trâm cài đầu đến vòng cổ, vòng tay, bao tay, vòng chân, bao chân, đai áo...
Những chiếc đai đầu gắn lông chim là trang sức thiêng liêng và quý giá, phụ nữ thường đeo mỗi khi nhảy múa, ca hát trong các dịp hội hè, lễ tết. Bao đai, bao chân ngày ấy còn gắn với quả chuông nho nhỏ, trong lúc đi lại sẽ phát ra âm thanh như reo mừng. Hình thức vòng cũng khá phong phú, có cái để trơn, nhẵn, có cái trang trí hoa văn đơn giản. Khuy áo bằng đồng dáng cong mềm, hai đầu uốn vào trong thân khuy, hoặc thon dần, đến hết đường lượn lại hướng ra ngoài, ở giữa gắn khuy móc tròn. Mỗi chiếc khuy đai áo có thể dài đến 14 cm.
Hàng chục chiếc gương đồng đa dạng về kiểu dáng, kích cỡ là điểm nổi bật trong số các hiện vật trang sức phụ nữ niên đại thế kỷ XVI- XVII. Gương hình vuông, hình tròn, có tay cầm hình chữ nhật, có những chiếc gương chỉ là phiến đồng tròn, dày, trơn bóng.
Đồ trang sức của phụ nữ Việt Nam qua các thời kỳ thể hiện rõ nét óc thẩm mỹ, sự sáng tạo, đôi bàn tay khéo léo của người Việt xưa.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)